Cuộc vận động "Người VN ưu tiên dùng hàng VN" đang dần đi vào thực tế. Tuy nhiên, đối với dược phẩm - được coi là thiết yếu với sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng người dân, thì xem ra, chủ trương này còn xa vời khi dược phẩm trong nước còn lép vế so với sản phẩm nhập khẩu ngay tại thị trường VN.
Đừng để tuột cơ hội
"Thị trường dược phẩm VN sẽ tiếp tục tăng trưởng 25% mỗi năm và đạt giá trị gần 2 tỷ USD vào 2013" - đánh giá của hãng nghiên cứu thị trường BMI(Anh) mới đây đã cho thấy tiềm năng của thị trường này. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu các DN trong nước không biết nắm bắt cơ hội thì thị trường dược phẩm VN chỉ trở thành miếng bánh béo bở cho các công ty nước ngoài.
Có thể nhận thấy, khủng hoảng kinh tế đã tác động không nhỏ tới sự sụt giảm của nhiều ngành kinh tế, sụt giảm trong tiêu dùng. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng thuốc mõi năm đều không ngừng tăng(riêng năm 2008, tiền thuốc bình quân của người dân VN đã đạt 16.45 USD/người/năm, tăng tiền thuốc bình quân của người dân dự kiến cũng sẽ tăng khoảng 18 USD/người/năm.
Đối mặt "tác động kép"
Theo PGS TS Lê Văn Truyền - nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, công nghiệp dược VN hiện đang đối mặt với "tác động kép" là tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động tiêu cực của quá trình mở cửa thị trường dược phẩm theo các cam kết quốc tế khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, dù được đánh giá là một trong những ngành có nhiều tiềm năng phát triển và khả năng mang lại lợi nhuận cao nhưng hiện chúng ta mới có một số ít DN tên tuổi trong gần 200 công ty dược phẩm của cả nước, và vẫn chưa có một "thương hiệu" nào được khẳng định trên thị trường thế giới.
Các chuyên gia cho rằng, thị trường dược phẩm thế giới hiện đã được khoảng 50 công ty đa quốc gia hàng đầu phân chia và chiếm giữ. Ở Châu Á, trong 10 công ty dược phẩm hàng đầu thì có đến 9 công ty đa quốc gia. Điều đó cho thấy, muốn khẳng định được mình, và hơn nữa là bước ra khỏi biên giới quốc gia, DN không những phải chứng minh mình là ai mà điều quan trọng là phải giới thiệu mình sản xuất được cái gì?
Vì vậy, thao PGS TS Lê Văn Truyền, khoan hãy nói đến thị trường dược phẩm trên thế giới mà nên tự hỏi vào năm 2020, khi VN có khả năng trở thành một nước công nghiệp thì công nghiệp dược VN đứng ở vị trí nào trong khu vực ASEAN và Châu Á. Chúng ta khong thể bước ra thị trường khu vực, Châu Á và thế giới nếu các nhà sản xuất dược phẩm VN không đầu tư đúng mực vào khoa học - công nghệ, nghiên cứu - phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật, tiếp cận với trình độ quản lý của công nghiệp dược khu vực và thế giới.
Mà muốn đầu tư đúng mực, cần phải tính đến quy mô của DN. Với tình hình phần tán như hiện nay, khó có DN nào kể cả các DN dược hàng đầu của VN có đủ tiềm lực tài chính và cán bộ khoa học - công nghệ để đầu tư và khai thác có hiệu quả sự đầu tư với hi vọng có "thương hiệu" trên thị trường dược phẩm khu vực, Châu Á và thế giới. Ngay cả Tổng công ty Dược VN đã có lúc có tham vọng trở thành " Tập đoàn dược phẩm VN" cũng chỉ là một tổ chức tập hợp các DN hoạt động riêng rẽ, thiếu sự gắn kết, phân công và hợp tác trong đâu tư, nghiên cứu - phát triển và sản xuất - kinh doanh. Một đội thương thuyền gồm 1000 thuyền buồn sức trở 10 tấn không thể nào cạnh trạnh được với một chiếc tàu thuỷ có tải trọng 10.000 tấn.
Cần lành mạnh hóa thị trường
Lộ trình thực hiện GMP bắt đầu thực hiện đến nay đã gần 15 năm là đã quá chậm so với yêu cầu của "Chính sách quốc gia về thuốc" và "Chiến lược phát triển ngành dược" do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Việc vẫn để các sản phẩm của các nhà sản xuất đạt GMP - WHO, GMP - ASEAN và không đạt GMP song song lưu hành trên thị trường là một điều bất cập, không công bằng đối với người bệnh, người tiêu dùng và cũng không công bằng đối với những nhà sản xuất đã nghiêm túc thực hiện chủ trương chủ Thủ tướng và Bộ Y tế. Hiện tượng này không góp phần vào việc làm lành mạnh hóa thị trường dược phẩm VN mà ở một khía cạnh nào đó đã tạo điều kiện thúc đẩy sự cạnh tranh không lành mạnh và có thẻ làm nản lòng các nhà sản xuất nghiêm túc, đứng đắn. Theo các chuyên gia, Bộ Y tế cần phải kiên quyết hơn nữa trong việc chỉ đạo triển khai lộ trình thực hiện GMP. Nếu không, các DN dược nước ngoài sẽ tận dụng điều này để thâu tóm thị trường với tên tuổi sẵn có của họ.
Cục Quản lý Dược cho biết, tính đến nay đã có 438 DN dược nước ngoài đăng ký hoạt động tại VN. Những quốc gia có nhiều công ty dược phẩm cũng như số đăng ký thuốc nhiều nhất trên thị trường VN là Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Đức...với hình thức phổ biến nhất là văn phòng đại diện và chủ yếu tham gia khâu NK thuốc, chiếm tỉ lệ đến 70%. Trong khi đó, chỉ có 1/5 tổng số thuốc đang lưu hành tại VN được sản xuất bởi các công ty này. Các công ty dược nước ngoài đã vào VN chủ yếu thông qua hình thức liên doanh như giữa công ty sản xuất Dược phẩm trung ương và Sanofi - Synthelabo của Pháp, Công ty Vinaspecia là liên doanh giữa Rhone - Poulenc(Pháp) với công ty XNK Y tế(VN), Stada VN là liên doanh giữa German Stada(Đức) và Công ty DP Khương Duy...
Hiện nay, thuốc ngoại nhập vẫn chiếm vị trí quan trọng khi cung ứng tới 1/2 trị giá thuốc cho thị trường thuốc trong nước, trong đó có nhiều loại thuốc đặc trị, chuyên khoa sâu, thuốc có công nghệ cao mà VN chưa sản xuất được. Bên cạnh đó, đối với thuốc sản xuất trong nước và các DN dược nội địa vẫn còn phụ thuộc tới 90% nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc nhập từ nước ngoài. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Trị - Chủ tịch HĐQT, TGĐ công ty dược phẩm Danapha, nếu các DN VN biết liên kết bài bản thì sẽ dần tạo được sức mạnh. Đặc biệt, với việc thành lập sàn giao dịch thương mại điện tử về thuốc là santhuoc.vn đây sẽ là cơ hội cho sự phát triển và cạnh tranh lành mạnh của các DN dược trên thị trường VN.
DN trong nước thiếu liên kết
Ông Đỗ Văn Doanh - Chủ tịch HH sản xuất kinh doanh dược VN thừa nhận, mặc dù hiện có hơn 100 DN đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất thuốc đạt các tiêu chuẩn GPs, ISO 9001:2000, tuy nhiên sức cạnh tranh của các sản phẩm của các DN dược trong nước chưa cao, tỷ trọng sản xuất phần lớn là các thuốc có giá trị thấp; tí sản xuất được các thuốc chuyên khoa đặc hiệu có kỹ thuật khó, hàm lượng chất xám, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao. Thuốc sản xuất trong nước mới đạt 51%, thuốc NK còn chiếm tỷ lệ 49%. Tỷ trọng thuốc trong nước XK còn thấp, mới chiếm khoảng 6% tổng giá trị thuốc sản xuất trong nước.
- Ngoài nguyên nhân năng lực yếu của các DN dược trong nước, còn có nguyên nhân nào khác, thưa ông?
Không hẳn như vậy. Chúng ta cũng phải thừa nhận rằngtrong xã hội còn một bộ phận dân cư còn sính thuốc ngoại.
- Nhưng thưa ông, bản thân DN dược phẩm trong nước chưa thể khẳng định thương hiệu?
Quả thực là thương hiệu của các DN dược trong nước trong những năm gần đây đã được nâng lên nhiều nhưng chưa cao. Điều đó một phần do nên kinh tế của chúng ta mới chuyển sang cơ chế thị trường. Dược phẩm lại là mặt hàng đặc biệt liên quan đến sức khoẻ người dân, cho nên có những điều kiện nhất định trong việc quảng bá sản phẩm.
- Vậy để nâng cao thương hiệu thuốc Việt, các DN dược trong nước phải giải quyết các vần đề gì lúc này, thưa ông?
Bên cạnh việc đầu tư xây dựng các nhà máy đạt các chuẩn GPs, xây dựng hệ thống quản lý, công nghệ sản xuất, hệ thống phân phối...một yếu tó quan trọng, "gót chân asin" của các DN dược trong nước hiện nay đó là "liên kết", bởi một DN khó có thể làm tốt được tất cả các công đoạn của chu trình kinh doanh...Ví dụ, trong NK nguyên phụ liệu, đầu vào của sản xuất trong nước, các DN có thể tự liên kết với nhau lựa chọn, uỷ táhc vào một DN NK của khu vực hoặc trong cả nước, hoặc nên phân công cho một đơn vị NK cho các DN ở phía Bắc và một đơn vị NK cho các NK ở phía Nam để tăng số lượng nguyên phụ liệu NK với giá hạ hơn. Các NK cũng cần thống nhất không sản xuất những mặt hàng đã có nhiều hoặc quá nhiều các NK khác sản xuất mà nên nghiên cứu sản xuất những mặt hàng ít DN sản xuất. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác trong chuyển nhựng bản quyền sản xuất, gia công sản phẩm. Đặc biệt, các DN không NK những mặt hàng mà trong nước đã có nhiều sản phẩm do các NK trong nước sản xuất trên dây chuyền GMP, giá thấp hơn mặt hàng cùng loại NK, đã được thị trường chấp nhận, đáp ứng đủ cho công tác chữa bệnh.
Trong phân phối có thể hợp tác là đại lý phân phối hàng sản xuất, NK cho nhau, hợp tác trong công tác đấu thầu để bổ sung năng lực, danh mục hàng, uy tín, mối quan hệ nhằm đạt hiệu quả trong công tác đấu thầu; hợp tác trong việc quảng vá thương hiệu của các DN dược VN trên thị trường trong và ngoài nước...
- Xin cảm ơn ông!
Phương Thảo(Báo Diễn đàn doanh nghiệp)
Sign up to receive information periodically