Nhìn từ góc độ cạnh tranh, ngành dược Việt Nam bước vào thời kỳ cạnh tranh theo nguyên tắc cơ bản của cạnh tranh kể từ khi VN tiến hành công cuộc "đổi mới", chyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá - tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng
Sau hơn 20 năm phát triển trong môi trường cạnh tranh, có thể khẳng định, đến thời điểm hiện nay, thị trường dược Việt nam đã cơ bản vận hành theo cơ chế thị trường với các đặc thù riêng có của một ngành kinh doanh đặc biệt. Điều này cũng có nghĩa là các nguyên tắc và quy luật của cạnh tranh đã từng bước phát huy tác dụng và ngày càng đống vai trò chi phối trên thị trường này.
Thị trường dược là một trong những thị trường phát triển rất nhanh cả về số lượng và quy mô: (i) Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành thường xuyên cao gấp 2 lần thậm chí có những năm gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP; (ii) Năm 2007, trên thị trường Việt Nam có 800 doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, 90 doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuốc, 171 doanh nghiệp sản xuất thuốc, khoảng 40.000 cơ sở bán lẻ và đặc biệt có tới 370 doanh nghiệp nước ngoài tham gia cung cấp thuốc cho thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau; (iii) Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng tăng mạnh và đạt xấp xỉ 1,4 tỷ USD vào năm 2008.
Mức độ cạnh tranh trên thị trường đang và sẽ ngày càng quyết liệt. Nhìn từ gốc độ cạnh tranh, điều này được thể hiện rất rõ qua các chỉ số đo mức độ tập trung kinh tế của ngành dược: các chỉ số CR3, CR5 và HHI của ngành dược(phân phối và sản xuất) không cao.
Đến thời điểm hiện nay, thị trường dược VN đã hội tụ đầy đủ các cung bậc, sắc thái của một thị trường cạnh tranh ở mức độ cao: Nhiều doanh nghiệp mới tham gia thị trường - nhiều doanh nghiệp rút khỏi thi trường do không cạnh tranh nổi, quá trình tập trung kinh tế(mua bán, sát nhập, hợp nhất, liên quan) cũng đã bắt đầu diến ra, xuất hiện các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền nhóm trên thị trường.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, thị trường dược hiện chỉ được bảo hộ ở mức rất thấp(chỉ còn lĩnh vực phân phối là chưa mở cửa cho doanh nghiệp nước ngoài) Điều này, đồng thời làm cho cạnh tranh trên thị trường dược diễn ra bình đẳng hơn giữa sản phẩm thuốc nhập khẩu và sản xuất trong nước, giữa các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp nước ngoài và góp phần tăng mức độ quyết liệt trong cạnh tranh trên thị trường.
Thị trường dược là một thị trường đặc biệt do nó sản xuất và kinh doanh một mặt hàng đặc biệt là thuốc chữa bệnh, một sản phẩm liên quan trược tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người. Và, do vậy, cũng như ở nước khác trên thế giới, ở VN, ngành dược là một ngành kinh doanh có điều kiện với các đặc điểm cụ thể là: (i) về mặt luật pháp, ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật áp dụng chung cho các ngành kinh tế(Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Pháp kệnh bảo vệ), ngành dược còn chịu sự điều chỉnh của Luật dược( Luật chuyên ngành); (ii) Về mặt quản lý nhà nước, ngoài chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý kinh tế nói chung, ngành dược còn chịu sự quản lý của cơ quan điều tiết ngành, cụ thể là Cục quản lý dược - Bộ Y tế.
Có thể khẳng định rằng, cạnh tranh trên thị trường dược đã mang lại các lợi ích to lớn và rõ ràng cho người tiêu dùng Việt nam: chưa bao giờ người tiêu dùng VN lại có được nhiều sự lựa chọn về dược phẩm như hiện nay, chưa bao giờ người tiêu dùng VN lại được hưởng nhiều tiện ích như hiện nay( thuận tiện, dễ dàng, dịch vụ tốt)
Bên cạnh các lợi ích mà người tiêu dùng được hưởng do cạnh tranh mang lại, thị trường dược cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, các hành vi gian lận thương mại, hàng giả hàng nhái bị các cơ quan chức năng phát hiện ngày càng nhiều, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng tăng, các dấu hiệu cuả các hành vi phản cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp cũng đã bắt đầu xuất hiện. Điều này đã và đang làm tổn hại đến môi trường cạnh tranh và gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Nguyễn Đức Thành
Phó cục trưởng
Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương
Sign up to receive information periodically